Độ trễ và thống kê
Hiểu chấm độ trễ, RTT, mất gói, mức dùng dữ liệu và ZAP.
Dùng trang này sau khi đã thấy các nút. Trang giải thích các phép đo Tunna dùng để sắp xếp nút, chọn Top 10, chọn Active nodes và giúp ZAP hữu ích.
Độ trễ, mất gói, dữ liệu và thống kê theo cách dễ hiểu
Độ trễ là kiểm tra trạng thái nhanh của Tunna cho một nút. Hãy xem như câu hỏi: nút này phản hồi nhanh đến đâu? Số nhỏ hơn thường cho cảm giác tốt hơn.
Hãy dùng các thẻ này như bản đồ các nhãn hiển thị trong màn hình này. Mỗi thẻ nêu một trường, điều khiển hoặc trạng thái và giải thích mục đích trước khi bạn thay đổi hoặc dựa vào nó.
Con số
Giá trị độ trễ là thời gian khứ hồi: Tunna gửi một kiểm tra nhỏ đến nút và đo thời gian câu trả lời quay lại.
Thấp hơn là tốt hơn
Thời gian nhỏ hơn thường nghĩa là nút phản hồi nhanh hơn.
Trung bình
Con số chính là trung bình gần đây, nên một lần kiểm tra lạ không nói hết câu chuyện.
Dấu cộng/trừ
Giá trị sau dấu cộng/trừ cho thấy các lần kiểm tra gần đây dao động ra sao. Một nút thấp và ổn định thường dễ chịu hơn một nút thấp nhưng dao động mạnh.
Các chấm trạng thái
Các chấm là những lần kiểm tra gần đây. Chúng giúp bạn xem nhanh một nút đang ổn định, chậm hay lỗi mà không cần mở biểu đồ.
Xanh lá, vàng, cam, đỏ
Xanh lá là nhanh, vàng là chậm hơn, cam là cao, và đỏ là kiểm tra thất bại. Chấm thất bại chuyển đỏ ngay; nó không chờ nhiều lần lỗi.
Chấm xám tạm thời
Màu xám chỉ xuất hiện khi Tunna chưa có chấm gần đây để vẽ.
Probing và Timeout
Probing nghĩa là Tunna vẫn đang kiểm tra hoặc chưa có mẫu thành công. Timeout nghĩa là ba lần kiểm tra gần đây đều thất bại liên tiếp.
Mở thống kê
Chạm vào số độ trễ hoặc các chấm trên hàng nút để mở chế độ xem Stats của nút đó. Bộ chọn phía dưới đổi phạm vi biểu đồ giữa Hour, Day, Month và Year.
Biểu đồ độ trễ
Độ trễ là thời gian chờ. Điểm thấp nghĩa là nút phản hồi nhanh; gai cao nghĩa là có lúc chậm.
Biểu đồ mất phản hồi
Loss là các phản hồi bị bỏ lỡ. Loss cao hơn nghĩa là Tunna yêu cầu nút kiểm tra nhưng thường không nhận được phản hồi hữu ích.
Sử dụng dữ liệu
Data Usage là bộ đếm lưu lượng. Sent là dữ liệu rời khỏi thiết bị của bạn qua nút; received là dữ liệu quay lại.
ZAP works best after checks are warm
ZAP chooses a good node using recent latency checks. On the main list it can choose from available nodes, and on a subscription row it chooses from that group. If the tunnel is off, failed, or disconnecting, ZAP can also connect after choosing.